VĂN PHÒNG LUẬT SƯ UY TÍN TẠI TPHCM

Văn phòng luật sư TPHCM - Tư vấn pháp luật - Dịch vụ luật sư

Văn phòng luật sư TP. Hồ Chí Minh

KỸ NĂNG TƯ VẤN HỒ SƠ HÌNH SỰ

Kỹ năng tư vấn hồ sơ hình sự

* Tình huống:

- Năm 2005, anh A là người làm công với nhiệm vụ chuyên chở gỗ cho gia đình anh B. Năm 2010, anh B thỏa thuận với anh A rằng: anh A sẽ chở gỗ cho gia đình anh B vào mỗi bổi sáng và thời gian còn lại anh A được toàn quyền sử dụng như chở thuê cho người khác...Đến tháng 3 năm 2010, anh A có mượn tiền của anh C để trả nợ tiến cá bộ bóng đá bị thua. Tháng 6 năm 2010, do anh C thường xuyên đòi nợ nên anh A đã đem chiếc xe bán cho lại cho anh C với giá 4 triệu đồng.

- Ngày 16 tháng 7 năm 2010, anh B làm đơn tố cáo đến công an Quận Tân Bình về việc anh A lấy xe của mình gán nợ cho người khác và bỏ trốn. Ngày 25 tháng 7 năm 2010, công an Quận Tân Bình khởi tố vụ án.

- Đến tháng 10 năm 2010, công an Quận Tân Bình bắt được anh A, tạm giam 3 tháng và khởi tố bị can.

* Yêu cầu của gia đình anh A:

- Đề nghị luật sư giúp đỡ việc bắt và tạm giam của công là đúng hay sai

*Tư vấn của Văn phòng luật sư:

+ Qua yêu cầu của gia đình anh A, văn phòng luật sư nhận thấy:

Thứ nhất: xác định tội danh:

Việc anh A lấy xe của anh B gán nợ cho anh C đã cấu thành tội phạm gì:

Có quan điểm cho rằng anh A đã phạm tội lừa đảovì căn cứ khoản 1 điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định:“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Theo đó, anh A đã có thủ đoạn gian dối là mặc dù biết rõ chiếc xe không phải thuộc quyền sở hữu của mình mà đem gán nợ cho anh C nhằm chiếm đoạt số tiền nợ của anh C nên đã cấu thành nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Có quan điểm cho rằng anh A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cụ thể căn cứ khoản 1 điều 140 bộ luật hình sự 1999 về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định:“Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”.

Theo đó, anh A đã lợi dụng sự tín nhiệm của anh B về việc giao xe để anh A toàn quyền sử dụng để kiếm thêm thu nhập. Tuy nhiên, anh A lại lợi dụng sự tin tưởng mang xe của anh B đem gán nợ cho anh C và đã bỏ trốn. Vì vậy, anh A đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Về quan điểm cá nhân:

Theo Tôi anh A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 vì anh A đã lợi dụng sự tin tưởng của anh B đối với việc giao xe để toàn quyền sử dụng để kiếm thêm thu nhập nhưng anh A đã đem chiếc xe gán nợ cho người khác để trừ đi khoản nợ mà anh A thiếu. Vì vậy, anh A sẽ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thứ hai: Việc tạm giam của công an Quận Tân Bình:

Việc tạm giam 03 tháng của công an Quận Tân Bình là không đúng pháp luật, cụ thể:

Căn cứ khoản 1 điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về thời hạn tạm giam để điều tra quy định:“ Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Căn cứ khoản 3 điều 8 Luật hình sư được sửa đổi bổ sung năm 2009 về khái niệm tội phạm quy định:“Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Căn cứ khoản 1 điều 140 bộ luật hình sự 1999 về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định:“Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”.

Theo đó, khung hình phạt của anh A chỉ đến ba năm tù và thuộc trường phạm tội ít nghiệm trọng. Vì vậy, việc tạm giam để điều tra đối với anh A trong trường hợp chỉ có hai tháng.





Bài viết liên quan
QUY ĐỊNH CHUYỂN NHƯỢNG VỐN CỔ PHẦN DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CHO NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

QUY ĐỊNH CHUYỂN NHƯỢNG VỐN CỔ PHẦN DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CHO NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Trước đây việc chuyển nhượng vốn, cổ phần của công ty trong nước cho nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg và Thông tư 131/2010/TT-BTC. Tuy nhiên trên thực tế triển khai đã có nhiều bất cập và chưa thống nhất cách hiểu giữa các cơ quan nhà nước, cho nên có nhiều dự án chuyển nhượng dưới 49% vốn nhưng cơ quan nhà ...

MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ GÓP VỐN BẰNG đẤT

MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ GÓP VỐN BẰNG đẤT

Luật Đất đai quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng đất chứ không phải là bằng giá trị quyền sử dụng đất. Theo khoản 10 điều 3 của luật này, góp vốn bằng quyền sử dụng đất là một trong những cách thức để chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác. Khoản 1 điều 99 của luật cũng nói rõ rằng người nhận góp vốn được ...

LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG MÀ KHÔNG BIẾT NƠI CƯ TRÚ CỦA BỊ ĐƠN

LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG MÀ KHÔNG BIẾT NƠI CƯ TRÚ CỦA BỊ ĐƠN

Để được ly hôn đơn phương thì việc Tòa án thụ lý đơn ly hôn là bước tiền đề đầu tiên. Theo qui định tại điều 35 Luật Tố tụng dân sự “ Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đon là cá nhân …..có thẩm quyền giải quyết ...

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 có hiệu lực từ 1/5/2013, tại điểm k khoản 1 Điều 23 có nêu rõ “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề” là nội dung phải có trong Hợp đồng lao động. Điều này cũng có nghĩa các bên phải có thỏa thuận và sự ràng buộc về điều khoản này. Theo đó, tại Điều 62 Bộ luật lao động ...

QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM CÓ ĐƯỢC XEM LÀ PHỤ LỤC HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM CÓ ĐƯỢC XEM LÀ PHỤ LỤC HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Tương tự như các quan hệ dân sự khác theo chế định Luật dân sự Việt Nam, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập bởi các Hợp đồng, cụ thể là Hợp đồng lao động và các phụ lục hợp đồng lao động (nếu có). Theo chế định Luật lao động Việt Nam thì sau khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động ...

Một số vướng mắc trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình

Một số vướng mắc trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao cho người dân quyền sử dụng nên Nhà nước cấp cho người dân giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, việc ghi tên người sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thực tế đã có những vướng mắc, dẫn đến nhiều vụ tranh chấp khởi kiện ra Tòa án, ...

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

Để đảm bảo cuộc sống chung vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi cần có khối tài sản chung vợ chồng để đáp ứng được nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng và chăm sóc con cái. Theo tinh thần Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ ...

Xem tất cả »


Văn phòng luật sư TPHCM

Luật Sư Quang Thái

© 2015 - Bản quyền Văn phòng Luật sư Quang Thái

Đặt lịch